Quyết định của Bộ Chính trị về tổ chức bộ máy cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
Ngày 2/11/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 659-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
Ngày 2/11/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 659-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
Quyết định được ban hành căn cứ Điều lệ Đảng; Quy định số 208-QĐ/TW ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIV; Kết luận số 64-KL/TW ngày 01/7/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị; theo đề nghị của Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương và Ban Tổ chức Trung ương.
Rõ chức năng, rõ nhiệm vụ, không chồng chéo
Theo Quyết định, Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và điều lệ của từng tổ chức chính trị - xã hội.
Các cơ quan này là đơn vị dự toán cấp I theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, có con dấu và tài khoản riêng. Ban Thường trực căn cứ Quyết định ban hành quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của các cơ quan, bảo đảm rõ chức năng, rõ nhiệm vụ, quyền hạn; không chồng chéo, trùng lặp; không bỏ sót nhiệm vụ; hoạt động thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Về biên chế, trên cơ sở tổng biên chế được cơ quan có thẩm quyền giao, Ban Thường trực phân bổ, quản lý biên chế của Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; lãnh đạo cơ quan trung ương từng tổ chức chính trị - xã hội giao, quản lý, sử dụng biên chế của cơ quan mình và các đơn vị trực thuộc.
Văn phòng các cơ quan được thành lập đơn vị cấp phòng; các ban tham mưu, giúp việc của tổ chức chính trị - xã hội có từ 45 biên chế trở lên được thành lập đơn vị cấp phòng, mỗi phòng có từ 15 biên chế trở lên. Các cơ quan được sử dụng chuyên gia, cán bộ biệt phái, tình nguyện viên, cộng tác viên, tư vấn tự nguyện theo quy định.
Ban Thường trực chủ trì hiệp thương, không làm thay thủ trưởng cơ quan
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký, các Phó Chủ tịch chuyên trách và các Phó Chủ tịch là người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương. Ban Thường trực giữ vai trò chủ trì hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động; lãnh đạo, chỉ đạo về chủ trương, định hướng hoạt động và nhiệm vụ chung đối với các cơ quan trực thuộc.
Quyết định nêu rõ, việc lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường trực phải bảo đảm phù hợp với thẩm quyền của cơ quan lãnh đạo và điều lệ của từng tổ chức, không làm thay trách nhiệm quản lý, điều hành thường xuyên của thủ trưởng từng cơ quan. Ban Thường trực cũng hướng dẫn, điều phối thống nhất hoạt động của các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương; lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp, chuyển giao các đơn vị sự nghiệp trực thuộc các cơ quan theo quy định.
Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam có 7 ban tham mưu, 2 đơn vị sự nghiệp
Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam có chức năng tham mưu, giúp việc Ủy ban, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực; đồng thời là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ công tác Mặt trận, là đầu mối tham mưu, tổng hợp phục vụ Ban Thường trực trong thực hiện chương trình phối hợp và nhiệm vụ chung; tham mưu Ban Thường trực hướng dẫn, điều phối thống nhất hoạt động của các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương.
Nhiệm vụ của Cơ quan bao gồm: Tham mưu Ban Thường trực, Đoàn Chủ tịch, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề xuất với Đảng, Nhà nước các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến Nhân dân, đoàn viên, hội viên; xây dựng nghị quyết, kết luận, chương trình, kế hoạch thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, quy định của pháp luật.
Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; tuyên truyền, vận động Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện giám sát và phản biện xã hội; hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp; tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh với Đảng, Nhà nước; thực hiện đối ngoại nhân dân và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Cơ quan được giao tham mưu, tham gia xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; chủ trì tổ chức giám sát và phản biện xã hội theo chuyên đề, lĩnh vực công tác của Mặt trận; chủ trì nắm, tổng hợp tình hình Nhân dân, tình hình dân tộc, tôn giáo và các vấn đề bức xúc trong Nhân dân; chủ trì nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng của hệ thống Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác vận động nguồn lực xã hội và việc tiếp nhận các khoản quyên góp, ủng hộ.
Về lãnh đạo, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là Thủ trưởng Cơ quan; Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký là Phó Thủ trưởng Thường trực; các Phó Chủ tịch chuyên trách là Phó Thủ trưởng Cơ quan.
Cơ cấu tổ chức gồm 7 ban, đơn vị tham mưu, giúp việc: Ban Tổ chức, Kiểm tra; Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội; Ban Công tác xã hội; Ban Tuyên giáo; Ban Công tác Dân tộc, Tôn giáo và Kiều bào; Ban Công tác Hội quần chúng; Văn phòng.
Hai đơn vị sự nghiệp là Viện Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và Báo Đại đoàn kết. Văn phòng Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam do Ban Thường trực thành lập; Ban Thường trực thành lập các hội đồng tư vấn theo quy định.
5 cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
Cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội có chức năng tham mưu, giúp việc Ban Thường trực đối với chương trình phối hợp, nhiệm vụ chung và nhiệm vụ được phân công; trực tiếp tham mưu, giúp việc cơ quan lãnh đạo của tổ chức mình; đồng thời là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ của tổ chức đó.
Người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội là thủ trưởng cơ quan trung ương của tổ chức; cấp phó là phó thủ trưởng, chịu trách nhiệm trước cơ quan lãnh đạo của tổ chức và Ban Thường trực.
Theo Quyết định, Cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có Ban Công tác Công đoàn, Ban Quan hệ Lao động, Ban Tài chính Công đoàn, Văn phòng; các công đoàn ngành Trung ương, công đoàn tập đoàn kinh tế, tổng công ty trực thuộc; các đơn vị sự nghiệp; các doanh nghiệp do cơ quan, tổ chức làm chủ sở hữu hoặc thực hiện quyền đại diện phần vốn góp (nếu có).
Cơ quan Trung ương Hội Nông dân Việt Nam có Ban Công tác Nông dân, Văn phòng; Quỹ Hỗ trợ Nông dân Trung ương; các đơn vị sự nghiệp; các doanh nghiệp do cơ quan, tổ chức làm chủ sở hữu hoặc thực hiện quyền đại diện phần vốn góp (nếu có).
Cơ quan Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có Ban Công tác Đoàn, Ban Công tác Thanh thiếu nhi, Văn phòng; các đơn vị sự nghiệp; các doanh nghiệp do cơ quan, tổ chức làm chủ sở hữu hoặc thực hiện quyền đại diện phần vốn góp (nếu có).
Cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có Ban Công tác Phụ nữ, Ban Công tác Gia đình - xã hội, Văn phòng; các đơn vị sự nghiệp; các doanh nghiệp do cơ quan, tổ chức làm chủ sở hữu hoặc thực hiện quyền đại diện phần vốn góp (nếu có).
Cơ quan Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam có Ban Tuyên giáo - Dân vận - Phong trào, Ban Tổ chức - Chính sách - Kiểm tra, Văn phòng; các đơn vị sự nghiệp; các doanh nghiệp do cơ quan, tổ chức làm chủ sở hữu hoặc thực hiện quyền đại diện phần vốn góp (nếu có).
Mỗi nhiệm vụ xác định rõ một cơ quan chủ trì
Mối quan hệ giữa Ban Thường trực với Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội là quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và điều lệ của từng tổ chức. Quan hệ giữa Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam với cơ quan trung ương các tổ chức chính trị - xã hội là quan hệ phối hợp; với mỗi nhiệm vụ, xác định rõ một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính và cơ quan phối hợp.
Ban Thường trực ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan; thủ trưởng từng cơ quan ban hành quy chế làm việc của cơ quan mình.
Quyết định có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Quyết định số 304-QĐ/TW ngày 10/6/2025 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Các công việc, đề án, hồ sơ đang giải quyết tiếp tục do cơ quan đang chủ trì thực hiện cho đến khi hoàn thành hoặc được bàn giao; việc bàn giao tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản phải bảo đảm liên tục, không làm gián đoạn hoạt động.